Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Từ sài gòn , Bác ra đi tìm đường cứu nước

Anh chị em ở Hội Liên Thành cho biết , ngày trước có nghe các cụ tiền bối nói từ Phan Thiết , Bác theo ghe bầu ( loại thuyền lớn ) chở nước mắm của công ti Liên Thành - chuyến đó đến Vũng Tàu bị sóng to gió lớn , ghe không vào cửa được phải đậu ở Gành Rái. Bác đã lên bờ đi qua Bà Rịa lên Long Thành để tới sai gon .Bác Hồ tới sai gon. Lúc đó , sai gon , Chợ Lớn , Gia Định còn tách riêng bởi nhiều ruộng , kinh rạch , đầm và đầm lầy. Tuy dân cư thưa thớt , chợ Bến Thành chưa xây xong , chợ sai gon còn rất nhỏ , hội họp trên nền Tổng ngân khố ở đường Nguyễn Huệ bây chừ , nhưng sài gòn đã có nước máy , có đèn khí. Nhà ga hoả xa nằm giữa đường Hàm Nghi. Trên các phố chủ yếu là xe ngựa làm gọi là “xe kiếng” , xe thổ mộ , xe song mã và xe kéo tay... Hải cảng sài gòn cho hạm thuyền 3 buồm hạng lớn và tàu thủy chạy bằng hơi nước mới xây dựng.Những năm đó , sài gòn là thành phố Viễn Đông tráng lệ của thực thương pháp. Với Bác , đây vẫn là thành phố của thiên lệch và đói nghèo. Về sau , trong những bài báo , diễn văn viết , nói ở nước ngoài , Người đã đan cử rất nhiều trường hợp về cái làm gọi là khai hóa , là văn minh , là công lý của bọn thực dân ở thành phố này... Đến sài gòn , đi hàng đầu Bác tìm đến nhà người huynh đệ bạn dì của cụ Nghè Mô là ông Lê Văn Đạt tại xóm cầu Rạch Bần , nay là số nhà 185/1 đường Cô Bắc , khi ấy là vựa chiếu. Một thời kì sau , cụ Nghè Mô và ông Hồ Tá Bang đưa Bác đến ở nhà 1-2-3 đường Tecxa , Chợ Lớn , hồi ấy là trụ sở của Thương quán Liên Thành phân cuộc. Những người kế tục của công ti Liên Thành cho biết , ngày trước 3 gian nhà này chỉ là nhà một tầng , lợp ngói âm dương. Bác ở đây cho đến ngày xuống tàu. Sau ngày miền Nam phóng thích ( tháng 4-1975 ) , nơi đây được đổi thành nhà số 3 và 5 đường Châu Văn Liêm ( Chợ Lớn ) , trong đó nhà số 5 được giữ làm di tích nơi Bác Hồ rời sai gon xuống tàu ra đi tìm đường cứu nước ( được Bộ Văn hóa - thông tin xếp hạng di tích lịch sử ngày 16-11-1988 ). Trong thời kì ở đây , Người thường đi thăm cụ thân sinh đang làm nghề đầu thang ở cầu Ông Lãnh. Các cụ ở Liên Thành kể chuyện rằng , tết năm đó thầy Thành nói: “Tôi về ăn tết với cha”. Thành phố sài gòn đã có một mùa xuân in đậm trong Bác. Mùa xuân đó sài gòn chưa có rạng đông. Trong đêm đen nô lệ , chắc chắn Bác và cụ Phó bảng - thân sinh của Bác - cũng chỉ đón tết với lòng xót xa thương dân , thương nước. Đầu tháng 3 , Bác xin vào học ở trường dạy nghề mở gần Chợ Cũ - trường này đào tạo công nhân hàng hải và công nhân chuyên nghiệp cho xưởng Ba Son. Có phải Bác muốn có một cái nghề để ra đi không? Đồng chí Hà Huy Giáp kể chuyện , có lần Bác nói: “Bác đâu Hữu ý định học thợ , nhưng trong khi lang thang để tìm cách sang phương Tây , mà có nơi cho mình học , có cái ăn là mình vô thôi”. Bác học tại trường được 3 tháng. Trong ngót 100 ngày đó , Bác đã dành nhiều thời kì xem xét kỹ lưỡng sài gòn. Cái gì đối với Bác cũng mới lạ , từ nhà cửa đến đèn khí , máy nước , xe pháo , chiếu bóng... Nhưng điều lạ hơn cả là trong bối cảnh như vậy sao dân mình vẫn đau đớn và cực khổ và bị khinh dể. Phải làm chi để cứu dân , cứu nước? Trong một lần đến thăm cha , Bác được cụ Phó bảng dạy: “Tìm thăm cha là tốt , nhưng cái cần hơn vẫn là tìm đường cứu dân tộc”... Nghĩ suy đúc kết những bước đi của Các ngài tiền bối , Bác khâm phục các cụ Phan Đình Phùng , Hoàng Hoa Thám , Phan Chu Trinh , Phan Bội Châu , Trần Quý Cáp… Các cụ đã giúp thêm cho Bác quyết tâm , chủ trương và nghị lực. Nhưng Bác “không hoàn toàn đồng tình cách làm của một người nào”. Bác phân tích: Cụ Phan Chu Trinh chỉ đề nghị người Pháp thực hành cải lương , Bác nhận thấy điều đó là sai trái , chẳng khác nào đến xin giặc rủ lòng thương. Cụ Phan Bội Châu lạc quan Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp. Điều đó rất gian truân , chẳng khác nào “đưa hổ cửa trước , rước beo cửa sau”. Cụ Hoàng Hoa Thám thực tiễn hơn , vì trực tiếp đấu tranh chống Pháp. Nhưng theo lời người ta kể thì cụ còn nặng khí cốt phong kiến… ( 1 )Người thấy rõ và quyết định con đường nên đi. Đồng chí Hà Huy Giáp kể rằng , có lần Bác nói: “Cách mạng là con chim đại bằng có 2 cánh , một cánh vỗ ở các nước thuộc địa , một cánh vỗ ở các nước chính quốc. Có 2 cánh vỗ thì đại bằng mới bay được”. Trong đêm đen nô lệ của đất nước , Bác đã là cánh chim đại bằng - “cánh chim không mỏi”.Khi quyết tâm ra đi , Bác rủ một người bạn: - Tôi muốn đi ra ngoài , xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi coi xét họ làm thế nào , tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta. Nhưng nếu đi độc thân , thực tình cũng có điều mạo hiểm , ví như khi đau ốm... Anh muốn đi với tôi không? Người bạn kinh ngạc sửng sốt hỏi: - Nhưng... lấy đâu ra tiền mà đi? Bác giơ 2 bàn tay lên cả quyết: - Đây , tiền đây. Chúng ta sẽ làm việc , ta sẽ làm bất kể việc gì để sống và để đi. Anh cùng đi với tôi chứ? Trước lòng quyết tâm của Bác , anh bạn đã cùng quan điểm hoặc suy nghĩ với ai đó , nhưng sau thời gian ấy anh không đủ bạo thực hành lời hứa. ( 2 )Tháng 4-1862 , công ti tải thủy lộ họ hàng nhà vua Pháp Messageries Impériales ( MI ) bắt đầu hoạt động tuyến từ pháp đi sài gòn - Hồng Công... Trụ sở của công ti ở sài gòn là ngôi nhà 3 tầng nằm ở hữu ngạn vàm rạch Bến Nghé ( 3 ) , trên nóc có 2 con rồng quay đầu vào chầu trăng theo kiểu “Lưỡng long chầu nguyệt”. Sau này ( khoảng năm 1920 ) , khi hãng MI đổi thành hãng Messageries Maritimes , trăng được thay bằng phù hiệu của hãng có hình đầu ngựa , mỏ neo , vương miện , hai bên có 2 con rồng chầu , nhưng lại đặt đầu quay ra hai bên , bốn góc có 4 con cá hóa rồng chầu ra bốn hướng theo cung cách đình chùa Việt Nam. Một nhà báo Pháp viết rằng , đó là cách điệu của người Pháp để nói các con tàu ra đi từ xứ Á châu này. Coi mặt đặt tên , dân chúng ta gọi đó là Nhà Rồng. Tên bến Nhà Rồng cũng khởi hành từ đó.Bên này vàm rạch Bến Nghé có cột cờ Thủ Ngữ để làm mốc cho tàu buôn ra vào. Cột cờ dựng ở trước Sở thuế của cảng sài gòn ( khi đó còn làm gọi là Sở Thủ ngự như tên dưới thời Vua Tự Đức ). Cũng như vậy , ngày 15-8-1862 , tại Vũng Tàu , khánh thành ngọn đèn biển dẫn đường cho tàu vào cửa Cần Giờ.Sau MI , có thêm hãng tàu Chargeurs Resunis ( mới thành lập , chạy đường Pháp và Đông Dương từ năm 1901 ) , chạy trên đường này. Hãng có đội tàu 7 chiếc. 6 tàu lớn chia nhau chạy các tuyến giữa hải cảng Pháp và Đông Dương. Chiếc Chợ Lớn nhỏ hơn , chạy bổ sung quanh năm. Từ Đông Dương đi Pháp có 2 nơi khởi hành: từ Hải Phòng vào ngày 27 mỗi tháng , từ sài gòn vào ngày 5 mỗi tháng. Hãng này có huy hiệu 5 ngôi sao nên người Việt Nam thường làm gọi là hãng Năm Sao. Tàu Amiral Latouche Tréville là một trong 7 chiếc tàu của hãng Năm Sao , do xưởng đóng tàu La Loire làm ra ở vùng Saint Nazaire , hạ thủy ngày 21-3-1903 , đăng kí tại cảng Le Havre năm 1904. Đây là một trong những tàu cỡ lớn đầu thế kỷ 20 , vừa chở người vừa chuyên chở. Hãng tàu Năm Sao có bến trong thương cảng sài gòn - ngày đó dài chừng 600m , tiếp nối với quân cảng kể từ Công xưởng Mê Linh tới cầu Khánh Hội bên này rạch Bến Nghé , khi ấy làm gọi là Quai Francis Garnier , nay cũng là một phần đường Tôn Đức Thắng. Thương cảng sai gon năm 1911 khá nhộn nhịp , trang bị thập toàn và ở vào đầu mối giao thông rất thuận lợi , chỉ dài 600m mà có nhiều đại lộ châu đầu vô bến. Đó là các đường Paul Blanchy ( nay là đường Hai Bà Trưng ) , Catinat ( nay là đường Đồng Khởi ) , Charner ( nay là đường Nguyễn Huệ ) , Krantz và Duperré ( nay là đường Hàm Nghi ). Nhà ga đường sắt đi Mỹ Tho và Phan Thiết đặt ở đầu đường Hàm Nghi tiếp cận với thương cảng. Nhà ga tàu hơi ( tramway ) cũng ở ngay đầu đường Nguyễn Huệ. Tàu hơi chạy dọc suốt thương cảng và quân cảng , một phía đi Gia Định rồi Hóc Môn , phía kia đi Chợ Lớn. Chợ Bến Thành ( cũ ) nằm gần đầu đường Nguyễn Huệ , nay là ngân khố. Qua thương cảng , khối lượng tải hành khách và hàng hóa của cảng càng ngày càng Thêm lên ( riêng lúa gạo , năm 1861 xuất biên 80.000 tấn , năm 1891 xuất biên 440.000 tấn , năm 1911 xuất biên trên 1 , 1 triệu tấn ).Thương cảng sài gòn khi ấy có 5 cầu tàu: 3 cầu cảng nhỏ ở đầu đường Đồng Khởi dành cho các hãng tải đường sông , 1 cầu cảng lớn ở đầu đường Nguyễn Huệ dành cho các tàu viễn dương và 1 cầu cảng nhỏ ở đầu đường Hàm Nghi dành cho hãng tàu người Hoa. Brébion đã diễn tả thương cảng sai gon hồi 1911: “Trên bến Francis Garnier ( nay là bến Bạch Đằng ) , phía bờ sông có nhiều loại cầu cảng chiếm chỗ. Một trong số cầu cảng lớn nhất là nơi cập bến các tàu lớn thuộc hãng Chargeurs Resunis ( hãng Năm Sao ). Chúng ta có khả năng tự tin tuyên bố bến đậu tàu Amiral Latouche Tréville là cầu cảng lớn của thương cảng sài gòn nơi đầu đường Nguyễn Huệ. Đây là một vị trí khang trang và khoáng đãng hạng nhất thành phố: Nhìn vào lục địa qua đường Nguyễn Huệ rộng rãi thấy trụ sở Ủy ban dân chúng thành phố ( nhà Xã Tây cũ với kiến trúc đặc sắc ghi dấu một thời ) , nhìn sang phía sông thấy ngôi Nhà Rồng đồ sộ với dáng vẻ Âu Á pha tạp dễ gây ấn tượng.( 4 )Sau này khi Chiến tranh thế giới thứ 2 nổ ra , ở Việt Nam là cuộc kháng chiến chống Pháp , hãng tàu Năm Sao không hoạt động ở Việt Nam và bến cảng bỏ phế. Các tàu thuyền ra vào chỉ cập cảng Nhà Rồng là chủ yếu. Đến thời kỳ lúa ra đòng kháng chiến chống Mỹ , thương cảng sài gòn trở nên bến sông cho các thuyền lao vụ và thành phố chỉ còn 1 thương cảng là bến Nhà Rồng. Từ thời gian này hiện nay chúng ta gọi Bác Hồ ra đi từ bến Nhà Rồng vẫn được , do bến cảng Nhà Rồng hiện nay là hiện thân điển hình cho các thương cảng của sai gon những năm đầu thế kỷ 20.( Còn tiếp )( 1 ) và ( 2 ) Theo “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” của Trần Dân Tiên.( 3 ) Vàm rạch: cửa sông Bến Nghé.( 4 ) Theo tài liệu của nhà sử học Nguyễn Đình Đầu.Ký của Trình Quang Phú sè sẽ .

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét